Cách hạch toán thuế GTGT không được khấu trừ

Khấu trừ thuế giá trị gia tăng là công việc của kế toán phải thực hiện hàng tháng, quý. Việc xác định số thuế được khấu trừ hoặc phải nộp dựa trên việc bù trừ số thuế đầu ra và số thuế đầu vào. Tuy nhiên các trường hợp không được khấu trừ thuế GTGT thì không phải ai cũng biết. 

Để giúp bạn nắm rõ vấn đề này. Xem ngay bài viết ketoangiare.net chia sẻ đến bạn dưới đây để biết và vận dụng ngay vào công việc bạn nhé.

Khấu trừ thuế giá trị gia tăng là việc doanh nghiệp xác định số thuế GTGT cần phải nộp vào ngân sách nhà nước dựa trên cơ sở lấy số thuế GTGT đầu ra trừ đi số thuế GTGT đầu vào.

Thông thường khi doanh nghiệp mua hàng hóa, dịch vụ thì sẽ phải chịu mức thuế GTGT cho hàng hóa (được hiểu là thuế GTGT đầu vào). Nhưng khi doanh nghiệp đem hàng hóa đó đi bán lại thì bên mua hàng sẽ chịu mức thuế GTGT tính trên giá trị của hàng hóa đó (được hiểu là thuế GTGT đầu ra). 

Khi đó, số thuế GTGT mà doanh nghiệp mua hàng ban đầu cần phải nộp sẽ được tính bằng = thuế GTGT đầu ra – thuế GTGT đầu vào. Vì vậy về mặt bản chất, thuế GTGT là đánh vào người tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ cuối cùng. Việc doanh nghiệp thực hiện khấu trừ thuế nhằm tránh trùng lặp về thuế trên cùng một hàng hóa, dịch vụ.

Theo khoản 15 điều 14 Thông tư 219/2013/TT-BTC quy định:

- Hóa đơn GTGT sử dụng không đúng quy định của pháp luật như: hóa đơn GTGT không ghi thuế GTGT (trừ trường hợp đặc thù được dùng hóa đơn GTGT ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT);

- Hóa đơn không ghi hoặc ghi không đúng một trong các chỉ tiêu như tên, địa chỉ, mã số thuế của người bán nên không xác định được người bán;

- Hóa đơn không ghi hoặc ghi không đúng một trong các chỉ tiêu như tên, địa chỉ, mã số thuế của người mua nên không xác định được người mua.

- Hóa đơn, chứng từ nộp thuế GTGT giả, hóa đơn bị tẩy xóa, hóa đơn khống (không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo);

- Hóa đơn ghi giá trị không đúng giá trị thực tế của hàng hóa, dịch vụ mua, bán hoặc trao đổi.

Lưu ý: 

- Doanh nghiệp được kê khai hóa đơn chưa khấu trừ bị bỏ sót vào kỳ kê khai gần nhất của thời điểm phát hiện sai sót. Và thời điểm kê khai phải thực hiện trước khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế.

- Bãi bỏ quy định khống chế thời gian kê khai hóa đơn đầu vào bị bỏ sót (trước thời điểm 01/01/2014 là 6 tháng).

Theo khoản 2 điều 15 Thông tư số 219/2013/TT-BTC (được cập nhật theo Khoản 9 Điều 1 Thông tư 26/2015/TT-BTC và Điều 1 Thông tư 173/2016/TT-BTC):

- Hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần có hóa đơn từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã có thuế GTGT) nếu không thực hiện thanh toán qua ngân hàng thì không được khấu trừ. Kể cả trường hợp doanh nghiệp mang tiền mặt nộp vào tài khoản bên bán. 

- Thuế GTGT được kê khai khấu trừ ngay tại thời điểm mua hàng hóa dịch vụ và có hóa đơn GTGT đầu vào không phân biệt đã thanh toán hoặc chưa thanh toán. 

Trường hợp không tuân thủ đúng quy định về thanh toán không dùng tiền mặt doanh nghiệp sẽ không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào và phải thực hiện điều chỉnh giảm số thuế GTGT đã kê khai khấu trừ vào kỳ thực hiện thanh toán. 

Đối với những hóa đơn này, cơ sở kinh doanh kê khai vào mục hàng hóa, dịch vụ không đủ điều kiện khấu trừ trong bảng kê hóa đơn, chứng từ hàng hóa, dịch vụ mua vào.

- Trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ của một nhà cung cấp có giá trị dưới hai mươi triệu đồng nhưng mua nhiều lần trong cùng một ngày có tổng giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán qua ngân hàng.

>>Nên xem: Vé Cước Đường Bộ Có Được Kê Khai Khấu Trừ Thuế GTGT [cập nhật 2021]

Theo điều 14 Thông tư 219/2013/TT-BTC:

“Điều 14. Nguyên tắc khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào

- Trường hợp cơ sở kinh doanh có các chuyên gia nước ngoài sang Việt Nam công tác, giữ các chức vụ quản lý tại Việt Nam, hưởng lương tại Việt Nam theo hợp đồng lao động ký với cơ sở kinh doanh tại Việt Nam thì cơ sở kinh doanh không được khấu trừ thuế GTGT của khoản tiền thuê nhà cho các chuyên gia nước ngoài này.

- Trường hợp các chuyên gia nước ngoài vẫn là nhân viên của doanh nghiệp ở nước ngoài, chịu sự điều động của doanh nghiệp ở nước ngoài, được doanh nghiệp ở nước ngoài trả lương và hưởng các chế độ của doanh nghiệp ở nước ngoài trong thời gian sang Việt Nam công tác, giữa doanh nghiệp ở nước ngoài và cơ sở kinh doanh tại Việt Nam có hợp đồng bằng văn bản nêu rõ doanh nghiệp tại Việt Nam phải chịu các chi phí về chỗ ở cho các chuyên gia nước ngoài trong thời gian công tác ở Việt Nam thì thuế GTGT của khoản tiền thuê nhà cho các chuyên gia nước ngoài làm việc tại Việt Nam do cơ sở kinh doanh tại Việt Nam chi trả được khấu trừ.”

“9. Số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ, cơ sở kinh doanh được hạch toán vào chi phí để tính thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc tính vào nguyên giá của tài sản cố định, trừ số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần có giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.”

Theo Khoản 9 Điều 1 Thông tư 26/2015/TT-BTC:

Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ (kể cả tài sản cố định) sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế GTGT thì chỉ được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT. 

Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ; trường hợp không hạch toán riêng được thì thuế đầu vào được khấu trừ tính theo tỷ lệ (%) giữa doanh thu chịu thuế GTGT, doanh thu không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT so với tổng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán ra bao gồm cả doanh thu không phải kê khai, tính nộp thuế không hạch toán riêng được.

Theo Điều 9 Thông tư 151/2014/TT-BTC:

- Nếu đơn vị sử dụng ô tô vào hoạt động kinh doanh vận chuyển hàng hóa, hành khách, kinh doanh du lịch, khách sạn: thì được khấu trừ toàn bộ số thuế GTGT đầu vào.

- Trường hợp không sử dụng ô tô vào các mục đích như trên mà chỉ dùng để đưa đón giám đốc, nhân viên..trong hoạt động kinh doanh thì số thuế GTGT đầu vào tương ứng với phần trị giá vượt trên 1,6 tỷ đồng sẽ không được khấu trừ.

Theo khoản 7 điều 14 Thông tư 219/2013/TT-BTC:

Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT không được khấu trừ, trừ các trường hợp sau:

- Thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh mua vào để sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế để viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại hướng dẫn tại khoản 19 Điều 4 Thông tư 219/2013/TT-BTC được khấu trừ toàn bộ.

- Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ dầu khí đến ngày khai thác đầu tiên hoặc ngày sản xuất đầu tiên được khấu trừ toàn bộ.

>>Xem thêm: Thủ Tục Và Điều Kiện Hoàn Thuế Giá Trị Gia Tăng [cập nhật 2021]

Theo quy định tại Điều 9 Thông tư 151/2014/TT-BTC, thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định, máy móc, thiết bị, kể cả thuế GTGT đầu vào của hoạt động đi thuê những tài sản, máy móc, thiết bị này và thuế GTGT đầu vào khác liên quan đến tài sản, máy móc, thiết bị như bảo hành, sửa chữa trong các trường hợp sau đây không được khấu trừ:

Tài sản cố định chuyên dùng phục vụ sản xuất vũ khí, khí tài phục vụ quốc phòng, an ninh;

Tài sản cố định, máy móc, thiết bị của các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh tái bảo hiểm, bảo hiểm nhân thọ, kinh doanh chứng khoán, cơ sở khám, chữa bệnh, cơ sở đào tạo;

Tàu bay dân dụng, du thuyền không sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hóa, hành khách, kinh doanh du lịch, khách sạn.

Các trường hợp cơ sở kinh doanh có hàng hóa xuất khẩu hoặc hàng hóa được coi như xuất khẩu hướng dẫn tại Điều 16, Điều 17 Thông tư 219 nếu đã có xác nhận của cơ quan Hải quan (đối với hàng hóa xuất khẩu) nhưng không có đủ các thủ tục, hồ sơ khác đối với từng trường hợp cụ thể thì không phải tính thuế GTGT đầu ra nhưng không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào

Riêng đối với trường hợp hàng hóa gia công chuyển tiếp và hàng hóa xuất khẩu tại chỗ, nếu không có đủ một trong các thủ tục, hồ sơ theo quy định thì phải tính và nộp thuế GTGT như hàng hóa tiêu thụ nội địa. 

Đối với cơ sở kinh doanh có dịch vụ xuất khẩu nếu không đáp ứng điều kiện về thanh toán qua ngân hàng hoặc được coi như thanh toán qua ngân hàng thì không được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0%, không phải tính thuế GTGT đầu ra nhưng không được khấu trừ thuế đầu vào

Theo khoản 9 điều 14 Thông tư 219/2013/TT-BTC:

"9. Số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ, cơ sở kinh doanh được hạch toán vào chi phí để tính thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc tính vào nguyên giá của tài sản cố định, trừ số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần có giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt."

Như vậy trường hợp này số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ hạch toán vào chi phí hoặc nguyên giá của Tài sản cố định.

Riêng trường hợp hóa đơn có giá trị từ 20 triệu trở lên mà không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt: Thì doanh nghiệp không được khấu trừ thuế GTGT và không được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN.

Ketoangiare.net vừa chia sẻ với bạn bài viết Các Trường Hợp Không Được Khấu Trừ Thuế GTGT 2021 Bạn Biết Chưa?. Hy vọng qua bài viết này các bạn sẽ nắm và biết cách vận dụng cho chính xác. Chúc các bạn sức khỏe và thành công.

>>Nên xem: Thuế Giá Trị Gia Tăng (GTGT) Hàng Phi Mậu Dịch Có Được Khấu Trừ?

Đừng quên COMMENT, SHARE bài viết các bạn nhé.

Tải thêm tài liệu liên quan đến bài viết Cách hạch toán thuế GTGT không được khấu trừ