Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 làm cho

Đặc điểm của cuộc khủng hoảng kinh tế (1929 - 1933) là

Đâu không phải là ý kiến đúng khi nhận xét về trật tự Vécxai-Oasinhtơn?

Nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự sụp đổ của Trật tự Véc-xai – Oa-sinh-tơn là

Tác động lớn nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 là

Đặc điểm của cuộc khủng hoảng kinh tế (1929 - 1933) là

Chi tiết Chuyên mục: Bài 14: Nhật Bản giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918-1939)

- Khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 làm kinh tế Nhật bị giảm sút trầm trọng, nhất là trong nông nghiệp do lệ thuộc vào thị trường bên ngoài.

- Biểu hiện

     + Sản lượng công nghiệp 1931 giảm 32,5%

     + Nông nghiệp giảm 1,7 %

     + Ngoại thương giảm 80%

     + Đồng yên sụt giá nghiêm trọng

     + Mâu thuẫn xã hội lên cao những cuộc đấu tranh của nhân dân lao động bùng nổ quyết liệt.

(Nguồn: trang 76 sgk Lịch Sử 11:)

Câu hỏi: Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 đến 1933 tác động đến nền kinh tế Việt Nam ra sao?

Lời giải:

- Dướitác độngcủacuộc khủng hoảng,nền kinh tế, xã hộiViệt Nambịkhủng hoảngnặng nề: Nông nghiệp,côngnghiệp bị suy sụp, xuất nhập khẩu bị đình đốn, hàng hóa khan hiếm (donền kinh tế Việt Namphụ thuộc hoàn toàn vào Pháp).

* Kinh tế:

- Nông nghiệp, công nghiệp bị suy sụp, xuất nhập khẩu đình đốn, hàng hóa khan hiếm, giá cả đắt đỏ.

* Xã hội:

- Đời sống của các tầng lớp nhân dân vô cùng cực khổ: nhà máy bị đóng cửa, công nhân không có việc làm hoặc có việc làm thì lương rất thấp; sản xuất nông nghiệp sa sút do xuất khẩu lúa gạo bị đình trệ, nông dân bị bần cùng hoá...; đời sống của tư sản, tiểu tư sản bấp bênh,...

- Thực dân Pháp còn tăng cường chính sách thuế khóa, làm cho đời sống của nhân dân càng thêm cùng cực.

- Pháp ra sức đẩy mạnh chính sách khủng bố trắng hòng dập tắt phong trào cách mạng vừa bùng nổ.

Cùng Top lời giải tìm hiểu chi tiết hơn cho câu hỏiCuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933) đã tác động đến tình hình kinh tế và xã hội Việt Nam ra sao?nhé:

I. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 và những tác động của nó đối với xã hội Việt Nam

Khủng hoảng kinh tế thường xuyên xảy ra trên thế giới, đặt biệt là ở các nước Tư bản, nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế lần này rất nghiêm trọng diễn ra trong thời gian dài, bao trùm tất cả các ngành của nền kinh tế và lôi cuốn tất cả các nước trên thế giới.

1. Nguyên nhân :

Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 là cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất trong lịch sử của chủ nghĩa tư bản. Đó là cuộc khủng hoảng sản xuất “ thừa”, bởi vì sự sản xuất bừa bãi, ồ ạt chạy theo lợi nhuận trong những năm ổn định của chủ nghĩa tư bản 1924-1929 đã dẫn đến tình trạng hàng hoá ế thừa vì sức mua của quần chúng đã bị giảm sút nhiều do sự bóc lột tàn tệ của giai cấp tư sản.

2. Diễn biến :

- Tháng 9-1929, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ nước Mĩ, là nước tư bản phát triển nhất lúc bấy giờ. Sản lượng công nghiệp ở Mĩ giảm 50%, trong đó gang, thép sụt xuống 75%, ô tô giảm 90%, 11500 xí nghiệp nhỏ và cả những xí nghiệp lớn bị phá sản. Nông thôn cũng bị tác động mạnh mẽ.

Để nâng cao giá hàng hoá và thu nhiều lời, các nhà tư bản kếch sù đã tiêu huỷ hàng hoá : cà phê, sữa, lúa mì, thịt, ...v.v... bị đốt hay đổ xuống biển chứ không được bán giá hạ.

Cuộc khủng hoảng lan rộng đến các nước tư bản chủ nghĩa khác. Ở Anh, sản lượng gang năm 1931 sụt mất 50% , thép cũng sụt gần 50% , thương nghiệp sụt 60%. Ở Pháp, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ cuối năm 1930và kéo dài đến năm 1936, sản lượng công nghiệp giảm 30%, nông nghiệp 40%, ngoại thương 60%, thu nhập quốc dân 30%. Ở Đức, đến năm 1930, sản lượng công nghiệp giảm 77%. Ở các nước Ba Lan, Ý, Ru-ma-ni, Nhật, ... đều có khủng hoảng kinh tế.

- Để cứu vãn tình hình, chính phủ các nước tư bản thi hành một số chính sách như đánh thuế nhập cảng nặng để hạn chế hàng hoá nước ngoài vào, lấy tiền trong ngân quỹ nhà nước trợ cấp cho các nhà tư bản. Chính phủ Mĩ đã bỏ ra hàng chục triệu đô la trong việc trợ cấp này.

Cuộc khủng hoảng kéo dài trong 4 năm, đến năm 1933 thì chấm dứt.

3. Hậu quả :

- Trong thời kì khủng hoảng kinh tế, đời sống nhân dân thật là khốn khổ.

Thứ nhất là nạn thất nghiệp. Ở Mĩ, năm 1933, có 17 triệu người thất nghiệp, đó là chưa kể vô số nông dân bị phá sản, phải bỏ ruộng vườn đi ra thành phố sống lang thang. Ở Anh, năm 1931, có 3 triệu người thất nghiệp. Ở các nước khác cũng xảy ra tình trạng ấy.

- Thứ hai là tiền lương bị giảm xuống rất nhiều. Ở Mĩ, lương công nhân công nghiệp chỉ còn 56 % . Ở Anh lương giảm còn 66%; ở Pháp lương giảm từ 30 đến 40% . Đó là chưa kể giá đồng bạc sụt xuống làm cho tiền lương thực tế càng bị giảm sút hơn. Ở Pháp, mức thu nhập của nông dân giảm 2,7 lần và hàng vạn nông dân bị vỡ nợ và phá sản. Do đó đời sống của nhân dân lao động rất cùng cực. Năm 1931, riêng thành phố Niu-ooc ( Mĩ ) có hàng nghìn người chết đói.

Bị đẩy đến bước cùng cực, công nhân và nhân dân lao động nổi dậy đấu tranh. Ở Mĩ năm 1930 có 2 vạn công nhân biểu tình thị uy, từ năm 1929-1933, có 3 triệu rưỡi công nhân tham gia bãi công. Ở Đức, năm 1930, 15 vạn công nhân bãi công, năm 1933, 35 vạn công nhân mỏ bãi công.

Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 là cuộc khủng hoảng lớn nhất trong những cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra từ xưa đến nay, kéo dài gần 4 năm. Sau đó là thời kì tiêu điều. Nền kinh tế tư bản vừa hồi phục lại đôi chút, thì lại lâm vào một cuộc khủng hoảng kinh tế mới 1937- 1938.

Khủng hoảng kinh tế làm cho mâu thuẫn giai cấp giữa tư bản và vô sản, giữa nông dân lao động với địa chủ, phú nông trở nên gay gắt. Và một cao trào cách mạng mới lại đến. Giai cấp thống trị các nước tư bản phải tăng cường chuyên chính, hạn chế tự do dân chủ và ở một số nước, phải đi tới biện pháp cực đoan là thiết lập chế độ phát xít.

Khủng hoảng kinh tế thế giới cũng làm cho mâu thuẫn giữa các đế quốc về vấn đề thị trường trở nên cực kì gay gắt. Các đế quốc tích cực chuẩn bị chiến tranh để chia lại thế giới. Chiến tranh thế giới thứ hai vì thế cuối cùng đã bùng nổ

II. Những tác động của nó đối với xã hội Việt Nam

- Trong giai đoạn 1929 – 1933, các nước tư bản chủ nghĩa nói chung và đế quốc Pháp nói riêng lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế nặng nề. Cuộc khủng hoảng đã tác động trực tiếp đến nền kinh tế Việt Nam:

+ Thực dân Pháp rút vốn đầu tư ở Đông Dương về các ngân hàng Pháp và dùng ngân sách Đông Dương để hỗ trợ cho tư bản Pháp => Sản xuất công nghiệp ở Việt Nam bị thiếu vốn dẫn đến đình trệ.

+ Lúa gạo trên thị trường thế giới bị mất giá làm cho lúa gạo Việt Nam không xuất khẩu được => Ruộng đất bị bỏ hoang.

=>Hậu quả là nền kinh tế Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng; Ruộng đất bỏ hoang, công nghiệp suy sụp, xuất khẩu đình đốn..., làm cho đời sống của đại bộ phận nhân dân Việt Nam lâm vào cảnh khốn cùng:

- Công nhân thất nghiệp ngày càng đông, số người có việc làm thì tiền lương bị giảm từ 30 đến 50%.

- Nông dân tiếp tục bị bần cùng hoá và phá sản trên quy mô lớn.

- Tiểu tư sản lâm vào cảnh điêu đứng: Nhà buôn nhỏ đóng cửa, viên chức bị sa thải, học sinh, sinh viên ra trường bị thất nghiệp.

- Một bộ phận lớn tư sản dân tộc lâm vào cảnh khó khăn do không thể buôn bán và sản xuất.

- Thêm vào đó, thực dân Pháp còn tăng sưu thế lên gấp 2, 3 lần và đẩy mạnh chính sách khủng bố trắng hòng dập tắt phong trào cách mạng Việt Nam… làm cho cuộc sống của người dân lao động khốn khổ đến tột cùng.

Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 đến 1933 gây nên nhiều tác động nghiêm trọng và ảnh hưởng nặng nề đến sự phát triển của các khu vực. Vậy nguyên nhân, diễn biến, đặc điểm, nội dung và hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 đến 1933 là gì?

Nguyên nhân cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 đến 1933

Cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 bắt nguồn từ các nước tư bản với sự chạy đua sản xuất hàng loạt hàng hóa số lượng lớn, mong đạt lợi luận khổng lồ. Từ đó, người dân không tiêu thụ hết dẫn tới thừa ế hàng hóa tràn lan. Tạo nên sự mất cân bằng về cung cầu, tiền mất giá, kinh tế đi xuống trầm trọng. Đồng thời làm các mối quan hệ giữa các nước xấu đi, nhiều mâu thuẫn và tranh chấp quyền lợi.

Về bản chất, cuộc khủng hoảng này xảy ra bởi các nước tư bản chạy theo lợi nhuận, vì thế sản xuất hàng hóa một cách ồ ạt. Tuy nhiên, sức mua của người dân lại giảm sút vì quần chúng quá nghèo khổ. Đây được xem là cuộc khủng hoảng sản xuất thừa. Trái ngược với cuộc khủng hoảng 1919 – 1924 được xem là cuộc khủng hoảng thiếu.

Cuộc khủng hoảng này đã phản ánh chính xác những mâu thuẫn sâu sắc trong nội bộ phe đế quốc cũng như những căn bệnh của chủ nghĩa tư bản. Đây cũng là những điều mà hệ thống Véc-xai Oa-sinh-tơn không thể giải quyết nổi.

Diễn biến cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 đến 1933

Vào tháng 09/1929, cuộc khủng hoảng kinh tế bắt đầu bùng nổ bắt nguồn từ nước Mỹ (đây là nước tư bản phát triển nhất thời điểm đấy). Do vậy, đây cũng là khủng hoảng lớn nhất thời điểm đó với sức tàn phá nặng nề khiến cho kinh tế nước Mỹ kiệt quệ, công nhân thất nghiệp, các cơ sở sản xuất phải đóng cửa. Lạm phát cao người dân khốn khổ, nghèo đói.

Nước Mỹ chạy đua ồ ạt sản xuất các mặt hàng nhưng khó tiêu thụ, ế hàng tràn lan. Sản lượng công nghiệp bị giảm sút 50% vì trì trệ với gang thép giảm 75%, ôtô giảm 90%. Hàng loại xí nghiệp lớn phá sản, nông dân thất thu nghèo khổ.

Cuộc khủng hoảng này cũng ảnh hưởng đến hàng loạt các nước tư bản khác. Hàng loạt các nước Anh, Pháp cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Pháp kéo dài khủng hoảng từ 1930 – 1936 với công nghiệp giảm 30%, nông nghiệp 40%, thu nhập quốc dân giảm 30%. Bên cạnh đó thì ở Anh, sản lượng gang năm 1931 cũng giảm sụt 50% , thép sụt gần 50% , thương nghiệp sụt giảm nặng nề 60%. Nước Đức, đến năm 1930, sản lượng công nghiệp cũng giảm nghiêm trọng 77%. Không những thế, các nước Ba Lan, Ý, Ru-ma-ni, Nhật, … đều có những khủng hoảng kinh tế.

Các nhà tư bản lựa chọn giải pháp thà đổ hàng, tiêu hủy chứ không bán giá rẻ hạn chế lạm phát vẫn không ăn thua. Tư bản đánh sưu thuế tăng cao để bù lỗ càng khiến nhân dân lầm than, oán thán.

Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 đến 1933 ở Mỹ

Trong giai đoạn khủng hoảng Mỹ là nước có tốc độ lạm phát và tiến trình khủng hoảng nặng nề. Tính năm 1933 có tới 17 triệu người thất nghiệp, các công ty, xí nghiệp phá sản, nông dân phải bỏ ruộng vườn tha phương. Bạo loạn diễn ra khắp nơi để giành sự sống. Năm 1930 có cuộc biểu tình của 2 vạn công nhân, 1929-1933 có cuộc bãi công của hơn 3 triệu công nhân.

Đặc điểm cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 đến 1933

Cuộc khủng hoảng kinh tế tầm thế giới thực chất là sự tham lam, tàn độc của đế quốc và thực dân. Dẫn tới cảnh người dân khốn cùng, điêu đứng rồi buộc phải nổi dậy đấu tranh giành lại cuộc sống. Từ đó khiến cho mâu thuẫn trong nội bộ quốc gia và giữa các nước bùng cháy, khởi nguồn cho cuộc chiến tranh thế giới mới.

Cuộc khủng hoảng kéo dài tận 4 năm và để lại nhiều hậu quả tàn phá đất nước và kinh tế nặng nề. Sau đó các nước phải mất nhiều năm cố gắng để phục hồi mọi thứ.

Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 đến 1933

Khủng hoảng kinh tế kéo dài nhiều năm ở tất cả các mặt dẫn tới sự tiêu điều của cả đất nước. Các nước tư bản nội bộ lục đục và sục sôi nảy sinh nhiều ý đồ xấu để giúp kinh tế phục hồi và phát triển hơn.

Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 đến 1933 khiến mâu thuẫn giữa giai cấp tư bản và vô sản, giữa người nông dân và địa chủ cực kỳ gay gắt. Vì thế đã dẫn tới cao trào cách mạng, bọn tư bản đàn áp khốc liệt nên người dân kịch liệt chống đối. Các cuộc bạo loạn xảy ra khắp nơi.

Đồng thời, khủng hoảng kinh tế cũng làm cho mâu thuẫn giữa các nước đế quốc căng thẳng về nhằm nhò tài nguyên, đất đai và tài sản của nhau. Các nước đế quốc tích cực đẩy mạnh chuẩn bị chiến tranh chia lại thế giới. Đây là ngòi nổ châm bùng lên ngọn lửa chiến tranh thế giới thứ hai.

Trong bối cảnh đó, Anh, Pháp tích thực hiện cải cách kinh tế, xã hội. Đức, I-ta-li-a, Nhật Bản tiến hành phát xít hóa chế độ cai trị và phát động chiến tranh.

Nước Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề vì bọn thực dân tăng cường bóc lột nhân dân, tăng sưu thuế, cướp bóc, chèn áp khiến kinh tế trở nên kiệt quệ. Pháp rút vốn đầu tư ở Đông Dương về nên sản xuất ở Việt Nam đình trệ, ruộng đất bỏ hoang. Đời sống nhân dân lâm vào cảnh khốn cảnh.

Hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 đến 1933

Thời kỳ khủng hoảng kinh tế thừa 1929 – 1933 đã khiến đời sống nhân dân cực khổ. Đặc biệt ảnh hưởng đến nạn thất nghiệp, tiền lương bị giảm sút đáng kể, nhân dân nổi dậy đấu tranh.

Thứ nhất là nạn thất nghiệp

Năm 1933 ở nước Mỹ có 17 triệu người thất nghiệp, cùng với vô số nông dân bị phá sản và phải bỏ ruộng vườn đi ra thành phố sống lang thang. Năm 1931 ở nước Anh có 3 triệu người thất nghiệp. Các nước tư bản khác cũng xảy ra những tình trạng tương tự…

Thứ hai là tiền lương giảm xuống nhiều

Lương công nhân công nghiệp ở nước Mỹ chỉ còn 56 % . Tai nước Anh thì lương giảm còn 66%. Tại nước Pháp thì lương giảm từ 30 đến 40% . Bên cạnh đó, giá đồng bạc sụt xuống làm cho tiền lương thực tế giảm sút rất nhiều. Mức sống của nông dân cũng giảm 2,7 lần ở Pháp, nhiều người dân phá sản. Chính vì vậy mà đời sống của nhân dân lao động rất khổ cực. Năm 1931 chỉ riêng thành phố Niu-ooc của Mĩ đã có hàng nghìn người chết đói.

Thứ ba là các cuộc đấu tranh của người dân

Công nhân và nhân dân lao động đã nổi dậy để đấu tranh bởi cuộc sống quá cực khổ bị đẩy đến đường cùng. Năm 1930 ở Mỹ đã có 2 vạn công nhân thị uy. Bên cạnh đó, từ năm 1929-1933, có 3 triệu rưỡi công nhân tham gia bãi công. Còn với nước Đức, năm 1930 cũng có 15 vạn công nhân bãi công, và năm 1933 lại có 35 vạn công nhân mỏ bãi công.

Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) đối với Việt Nam