Các loại thuốc có thể gây ức chế trung tâm hô hấp của trẻ

Các loại thuốc có thể gây ức chế trung tâm hô hấp của trẻ

Ảnh minh họa. Nguồn: livestrong.com

Ho là một triệu chứng thường gặp, là một phản xạ tự nhiên của đường hô hấp nhằm làm sạch đường thở khỏi bị ứ đọng các chất dịch tiết, các chất kích thích, vật lạ, vi khuẩn… Nguyên nhân phổ biến gây ra ho bao gồm: Cảm lạnh, nhiễm virus cúm, các tình trạng dị ứng, các bệnh có ảnh hưởng đến đường hô hấp (hen, viêm phế quản, viêm phổi, viêm xoang, viêm tai giữa…), hút thuốc lá hoặc hút thuốc lá thụ động, ô nhiễm không khí, bệnh lý trào ngược dạ dày- thực quản và một số thuốc nhất định (một số người sử dụng thuốc ức chế men chuyển điều trị tăng huyết áp có thể gây ho, khi ngừng thuốc sẽ hết ho).

Thông thường hay gặp hai loại ho: Ho khan và ho có đờm. Ho khan là tình trạng ho mà không tiết ra các dịch tiết nhầy, thường gây ngứa họng, rát họng và có thê gây khản giọng hoặc mất tiếng. Ho có đờm có đặc trưng là nặng ngực và cơn ho thường khạc ra chất nhầy và đờm. Ho có đờm thường liên quan đến các bệnh đường hô hấp mạn tính.

Thuốc trị ho thông dụng có các nhóm sau (không kể thuốc đông y):

Thuốc giảm ho: Thuốc có tác dụng giảm ho do ức chế trung tâm gây ho như codein, pholcodin, dextromethorphan với các biệt dược như Neocodion, Codepect, Atussin, Rhumenol… Trong đó codein và pholcodin có tác dụng gây nghiện, giảm đau và ức chế nhẹ trung tâm hô hấp. Dextromethorphan không gây nghiện, không có tác dụng giảm đau.

Những thuốc trị ho có chứa codein chỉ dành cho người lớn, không dùng cho trẻ em vì gây ức chế hô hấp. Đặc biệt những thuốc trị ho có chứa codein chống chỉ định cho trẻ dưới 18 tuổi vừa được cắt và/hoặc nạo V.A (dùng để giảm đau). Các thuốc nhóm này, nhất là codein, pholcodin, dextromethorphan, chỉ dùng trong trường hợp ho không có đờm (ho do cảm cúm, ho do kích ứng, dị ứng), ho nhiều làm người bệnh mệt mỏi, mất ngủ, không dùng trong trường hợp ho có đờm (trong bệnh viêm phế quản mạn, giãn phế quản); không dùng cho người suy hô hấp, hen suyễn, trẻ em, phụ nữ có thai và cho con bú.

Thuốc long đờm: Có tác dụng làm loãng đờm do làm tăng sự tiết dịch, do đó tăng thể tích, khối lượng đờm, làm cho đờm loãng ra, dễ tống ra ngoài nhờ phản xạ ho. Các hoạt chất như guaifenisin, ipecacuanha, muối amoni, muối iod, natribenzoat, terpin, với các biệt dược: Acodin, Terpincod, Passedyl, Terpin… 

Thuốc tiêu chất nhầy tác dụng trực tiếp lên đờm, làm thay đổi cấu trúc đờm bằng cách bẻ gãy các cấu trúc hóa học liên kết trong đờm (cầu nối disulphure, cầu nối oligo sacharid) nhưng không làm tăng thể tích, khối lượng đờm, khiến cho đờm giảm độ nhớt, độ quánh, dễ tống ra ngoài khi ho khạc. Đó là các hoạt chất acetylcystein, ambroxol, brohexin, carbocystein…với các biệt dược: Exomuc, ACC, Acemuc, Suresh, Fluidase, Mucosolvan, Halixol, Bisolvon, Eprazinon, Rhinathiol…

Nhóm thuốc long đờm, tiêu chất nhầy làm giảm độ đặc quánh của đờm, chất nhầy để dễ ho khạc nhưng có thể gây tràn dịch phổi và phá hỏng lớp chất nhầy bảo vệ niêm mạc dạ dày. Cần thận trọng với người có tiền sử loét dạ dày- tá tràng. Thuốc long đờm không phải là thuốc chống ho vì thuốc không có tác dụng vào cơ chế gây ho, không cắt cơn ho.

Thuốc kháng histamin: Một số thuốc kháng histamin chống dị ứng (kháng histamine H1 thế hệ 1) đồng thời có tác dụng làm dịu, giảm ho và an thần như diphenylhydramin, chlopheniramin, alimemazine, promethazine với các biệt dược: Phenergan, Theralene, Atussin, Toplexil,… Thuốc được điều trị các chứng ho khan do dị ứng, kích ứng. 

Nhược điểm chính của các thuốc này là gây buồn ngủ do tác động trên các thụ thể H1 ở não vì vậy bất lợi khi dùng thuốc ban ngày nhưng thuận lợi cho dùng về đêm và không được dùng thuốc khi lái xe, lái máy bay, vận hành máy móc… Loại thuốc này cũng có tác dụng làm khô quánh đặc dịch tiết, khó tống đờm, có thể gây ra cục đờm tắc nghẽn vì vậy không nên dùng trong trường hợp ho có đờm, người hen suyễn.

Ngoài ra, thuốc trị ho còn có nhóm các thuốc tê do tác dụng gây tê các ngọn dây thần kinh gây phản xạ ho nên làm giảm ho như các hoạt chất benzonatat, menthol, lidocain… được dùng qua đường hít, ngậm. Các thuốc làm dịu ho do có tác dụng bảo vệ, bao phủ các receptor cảm giác ở họng, hầu như glycerol…

Sử dụng thuốc trị ho cần lưu ý: Thuốc giảm ho chỉ dùng cho trường hợp ho khan, không dùng cho người ho có đờm và có triệu chứng suy hô hấp. Nên dùng liều thấp nhất có tác dụng và trong thời gian càng ngắn càng tốt để hạn chế tác dụng phụ của thuốc. Không dùng đồng thời kết hợp thuốc ho với thuốc long đờm vì đờm sẽ tiết nhiều hơn nhưng không ho khạc ra được. Những thuốc trị ho phối hợp nhiều thành phần (như Neocodion, Codepect, Atussin, Arsiba…) ngoài tác dụng phụ còn có thể có những tương tác bất lợi với các thuốc khác khi dùng cùng lúc.

Tóm lại, ho là cơ chế tự vệ sinh lý quan trọng để làm sạch đường thở. Ho cũng có thể là triệu chứng của một số bệnh, một số rối loạn trong cơ thể. Khi nào sử dụng thuốc trị ho khan, khi nào dùng thuốc long đờm, loãng đờm, thậm chí dùng thêm kháng sinh là điều thầy thuốc luôn quan tâm để sử dụng thuốc trị ho đúng cách và đạt hiệu quả cao nhất.

Nguồn: Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương (Bộ Y tế)

Ho có thể là triệu chứng của nhiều nguyên nhân: hô hấp, tim mạch (suy tim trái ), tiêu hóa (trào ngược dạ dày thực quản) tác dụng phụ của thuốc (captopril), tâm lý.

  • Bảo vệ khi có sự tấn công do hít các phân tử từ bên ngoài
  • Giới hạn việc xâm nhập đột ngột của các dị vật
  • Tham gia vào việc di chuyển và tống xuất các dịch tiết bất thường bên trong đường thở.

Ho có thể là triệu chứng của nhiều nguyên nhân: hô hấp, tim mạch (suy tim trái), tiêu hóa (trào ngược dạ dày thực quản) tác dụng phụ của thuốc (captopril), tâm lý.

Các loại thuốc có thể gây ức chế trung tâm hô hấp của trẻ

Trẻ bị ho. (Ảnh minh họa)

Phân loại ho

  • Ho cấp (< 3 tuần), ho kéo dài (> 8 tuần, một số tài liệu lấy ngưỡng 4 tuần)
  • Ho có đàm, ho khan
  • Ho có nguyên nhân, ho không có nguyên nhân.

Điều trị ho

Ho do nguyên nhân tại đường hô hấp trên: cảm lạnh, viêm mũi, viêm họng, viêm xoang. Viêm amidan thường ho khan, đôi khi ho đàm do mũi chảy từ xoang hoặc mũi sau.

Ho do nguyên nhân tại đường hô hấp dưới: viêm thanh quản thường ho khan, ho vang dội ông ổng; viêm phế quản; viêm phổi; viêm tiểu phế quản; hen thường ho đàm.

Điều trị ho bao gồm:

  • Điều trị nguyên nhân gây ho: rất quan trọng; nên hỏi và khám thật cẩn thận để tìm nguyên nhân trước khi điều trị triệu chứng
  • Điều trị triệu chứng: thuốc ức chế ho (antitussive), thuốc kích thích ho hay thuốc tan đàm (protussive).

Thuốc ức chế ho

Chỉ định khi ho khan gây nôn ói không ăn không ngủ được, ho nhiều gây xuất huyết kết mạc, nếu sử dụng các thuốc này sau 5 ngày còn ho, nên dừng lại và tìm lại nguyên nhân gây ho.

Có 3 nhóm thuốc ho gây ức chế trung tâm ho ở não: tất cả các thuốc này đều có tác dụng gây buồn ngủ.

  • Thuốc ho gây nghiện: các thuốc ho có chứa codein không được sử dụng cho trẻ dưới 6 tuổi
  • Thuốc ho không gây nghiện : có chứa dextromethorphan (atussin, antituss…) không dùng cho trẻ dưới 2 tuổi.
  • Thuốc kháng histamine thế hệ 1: đây là những thuốc chống dị ứng có thể điều trị những trường hợp ho khan do dị ứng, kích ứng khói, bụi... Nhưng không được dùng cho trẻ ho do hen, các thuốc này không dùng cho trẻ dưới 2 tuổi và không khuyến cáo sử dụng như thuốc trị ho vì có thể làm khô các chất tiết phế quản: Alimemazin (themaxtene, theralen...); Oxomemazine  (toplexil); Chlopheniramine (pheramin...)

Thuốc tan đàm

Dùng trong các trường hợp ho có đàm do các nguyên nhân viêm đường hô hấp trên và dưới, các thuốc này sau khi uống có thể gây ho tăng giúp hỗ trợ tống xuất đờm nhớt, không nên dùng phối hợp với các thuốc ức chế ho.

Có các nhóm thuốc dưới đây:

  • Chống dính chất nhầy vào đường hô hấp (detergent): Natri benzoate (passed) cẩn thận ở bệnh nhân có loét dạ dày tá tràng.
  • Cắt vỡ đàm làm dễ ho khạc đàm (mucolytic):
    • Acetylcystein acemuc, exomuc , acehasan... thuốc này có 2 chống chỉ định cần lưu ý: không dùng cho trẻ dưới 2 tuổi, trẻ có tiền sử hen (nguy cơ gây co thắt phế quản).
    • Bromhexin (bisolvon kids , Bromhexin…) ambroxol (ambroco…).
  • Kích thích tiết nhầy do tăng hoạt động nhung mao của biểu mô đường hô hấp (cilliary stimulant):
    • Ambroxol, bromhexin (có thể dùng cho trẻ dưới 6 tháng).
    • Salbutamol đơn thuần hay dưới dạng phối hợp salbutamol + Guaiphenesin (ventolinte expectorant); salbutamol + carbocystein (solmux Broncho thuốc này chống chỉ định cho trẻ dưới 2 tuổi do thành phần carbocystein) liều thuốc tính theo liều salbutamol.
  • Kích thích tiết nhầy qua thần kinh phế vị: ipeca, terpin hydrate; guaifenesine.

Các thuốc ho thảo dược

Có thể dùng trong ho khan lẫn ho đàm.

  • Thuốc chứa trần bì, cao núc nác, viễn chí, húng chanh (tần dày lá)... ví dụ như siro ho pectol E (dùng cho trẻ trên 30 tháng).
  • Các thuốc khác có chứa hương nhu, cam thảo bắc, nghệ, gừng...
  • Cần chú ý thành phần của thuốc ho thảo dược có chứa bạc hà (menthol) ví dụ như Zecuf không nên dùng cho trẻ dưới 2 tuổi vì có thể ức chế hô hấp ở lứa tuổi này.
  • Ho astex chứa húng chanh (tần dày lá an toàn cho trẻ từ tuổi sơ sinh đến trẻ lớn).

Các trường hợp ho cần chỉ định nhập viện 

Các trường hợp ho kèm các triệu chứng sau đây cần đặc biệt lưu ý chỉ định nhập viện:

  • Xảy ra từ lúc sơ sinh
  • Ho ra máu, ho ra đàm mủ
  • Ho bắt đầu và dai dẳng sau hội chứng xâm nhập
  • Ho trong và sau ăn
  • Bỏ ăn
  • Biến dạng lồng ngực
  • Có bệnh lí tim
  • Suy dinh dưỡng
  • Ngón tay dùi trống.

Nguồn: Phác đồ điều trị ngoại trú bệnh viện Nhi Đồng 1 (2017)

PGS.TS.BS Phan Hữu Nguyệt Diễm

- 28-05-2018 -